- Niên hiệu: Minh Mạng 明命
- Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽)
- Ngày sinh: Ngày 23 tháng 04 năm Tân Hợi (25/05/1791).
- Năm lên ngôi: Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820).
- Thời gian trị vì: 21 năm (1820 - 1841).
- Ngày mất: Ngày 28 tháng Chạp năm Canh tý (20/01/1841).
- Miếu hiệu: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.
Lăng Vua Minh MạngMinh Mạng là vị vua thứ hai trong 13 vị vua triều Nguyễn nối tiếp nhau từ năm 1802 đến 1945. Vua Minh Mạng trị vì trong gần 21 năm từ năm 1820 đến 1841. Lịch sử vua Minh Mạng được biết đến là một nhà cải cách hành chính nổi tiếng, người có công lớn trong việc thống nhất đất nước, phân định ranh giới hành chính các địa phương một cách khoa học, hợp lý ổn định gần như từ đó đến nay.
Tóm tắt cuộc đời vua Minh Mạng
Minh Mạng có tên huý là Nguyễn Phúc Đảm, sinh ngày 23 tháng 4 nǎm Tân Hợi (25/5/1791), là người con thứ 4 của vua Gia Long. Sau khi Gia Long mất, Nguyễn Phúc Đảm đã chính thức kế thừa ngôi vua, lấy niên hiệu Minh Mệnh vào năm 1820.
Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, nǎng động và quyết đoán. Ngay từ năm lên 9 tuổi (1800), hoàng tử Đảm đã được vua cha đưa theo ra trận. Ông sẵn tính thông minh, thường được vua cha khuyên nhủ học hành. Khi lên ngôi, Minh Mạng đặt ra lệ: các quan ở Thành, Dinh, Trấn - vǎn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ uý... ai được thǎng điện, bổ nhiệm... đều phải đến kinh đô gặp vua, để vua hỏi han công việc, kiểm tra nǎng lực và khuyên bảo.
Trong lịch sử các đời vua Việt Nam nói chung và lịch sử 13 vị vua triều Nguyễn nói riêng, đời vua có nhiều vợ nhất là vua Minh Mạng. Theo sách lịch sử ghi lại thì vua Minh Mạng có 500 người vợ, sau đó là vua Tự Đức có 103 người vợ.
Thành tựu nhà Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng
Vua Minh Mạng được xem là là vị vua có nhiều thành tích nhất của triều đại nhà Nguyễn. Đây được xem là thời kỳ hùng mạnh cuối cùng của chế độ phong kiến trong lịch sử Việt Nam. Dưới triều đại vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam có diện tích rộng lớn nhất trong số các triều đại phong kiến. Ảnh hưởng của nước Việt Nam lan rộng sang các quốc gia láng giềng như Vạn Tượng và Chân Lạp.
Dưới thời vua Minh Mạng, việc xác định chủ quyền biển đảo đất nước đã được kế thừa và phát huy hết sức hiệu quả mà không phải vị vua triều Nguyễn nào cũng làm được. Vua Minh Mạng đã chủ trương thực hiện nhiều chính sách cụ thể nhằm khẳng định chủ quyền cương hải của Tổ quốc hết sức bài bản và quyết liệt.
Trong 21 năm trị vì, Minh Mạng đã ban hành hàng loạt cải cách nội bộ. Minh Mạng cũng cử các quan đi đốc thúc việc khẩn hoang ở bờ biển phía Bắc và phía Nam. Là người tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Nǎm 1821 cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư Nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình, trước 6 nǎm một khoa thi, nay rút xuống 3 nǎm. Năm 1822, ông cho mở lại các kỳ thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Ông nghiêm cấm truyền bá đạo Thiên Chúa vì cho rằng đó là tà đạo phá hoại truyền thống dân tộc.
Về đối ngoại, Minh Mạng không đưa ra cải cách gì, tiếp tục duy trì chính sách của Gia Long: cô lập, từ chối mọi giao lưu với phương Tây, cấm nhân dân buôn bán với nước ngoài, khiến Đại Nam dần tụt hậu không tiếp thu được khoa học mới. và thành tựu kỹ thuật.
Suốt cả cuộc đời, nhà vua hết sức chăm nom việc triều chính, tham vọng phát triển đất nước. Đến năm 1841, vua Minh Mạng qua đời, truyền ngôi vua cho Nguyễn Phúc Miên Tông (tức vua Thiệu Trị).