Sơ lược nguồn gốc dòng Trương tộc
Dòng tộc họ Trương chúng tôi chỉ biết từ đời cụ cố tổ trường Văn Long, sanh năm 1827 và cụ bà Trần Thi Chợ, sanh năm 1831.
Theo bác tôi kể, cụ Tổ có 4 anh em trai vào định cư tại vùng đất Gia Đình. Một người lập nghiệp vùng Củ Chi, một người ở vùng đất Nhơn Trạch, còn một về vùng Hậu Giang, ở Cà mau. Bạc Liêu gì đó. Các đời sau không ai thăm ai nên bặt mất tin luôn. Bác tôi nghe vậy rồi kể lại cho con cháu. Chuyện kể không rạch ròi, lai lịch rất mù mờ.
Ngày bác tôi còn trẻ, một đôi lần theo ông tôi lên Củ Chi thăm bà còn mà bác kếu là "chú thầy giáo" Bác nói chung chung không tên người và địa danh cụ thể, nên ngày nay dầu muốn tìm cũng không tìm được
Cụ tổ tôi dạy chữ nho, làm thầy thuốc trị binh, xem mạch hốt thuốc, thông địa lý, rành bói toán... Môn sinh theo học cũng đông.
Cụ cưới bà Trần Thị Chợ, con gái nuôi của cụ bà Trần Thị Quản làm vợ. Bà tôi sanh năm 1831, nhỏ hơn cụ tổ 4 tuổi, gốc ở miền trung, hồi còn nhỏ bị người đi ghe bầu bắt cóc đem vào Gia Định bán cho người hiếm muộn
Ông bà định cư lập nghiệp tại đây, sanh gái đầu lòng đặt tên Trương Thị Nhóm, con trai Trương Văn Vầy (ông nội tôi) theo cách đặt tên mộc mạc "chợ, nhóm, đồng, vầy"
Vùng đất lập nghiệp dòng họ Trương nhiều lần đổi địa danh. Hệ thống làng xã Nam Kỳ Lục Tỉnh thời thuộc Pháp, thuộc làng Tân Hòa Đông, tổng Long Hưng thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thập niên 30 nửa đầu thế kỷ nầy, xáp nhập vào địa phương, Sài gòn - Chợ Lớn, cải đổi là Hộ 16 (16ème quartier). Pháp chiếm Nam bộ lần thứ hai, đổi địa danh là quận 7. Thời Ngô Đình Diệm cải sửa địa giới hành chánh lập Phường Bình Tiên - Quận 6. Hiện nay là Phường 10, quận 6-Tp Hồ Chí Minh. Đó là quê quản dòng Trương tộc của tôi.
Tính từ đồi cụ tổ Trương Văn Long lập nghiệp đến nay dòng họ Trương định cư tại địa phương nầy được 170 năm 1827-1997.
Năm 1862, khi nước ta nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp, ông nội tôi: Trương Văn Vầy mới lên 6, ông sanh năm 1856, là con trai lớn của dòng tộc họ Trương. Cụ tổ Trương Văn Long có 7 con, nhưng chỉ có 2 trai và 2 gái là có con nối dõi. Con trai cả là Trương Văn Vầy, con trai út là Trương Văn Mùa.
Trương Văn Vầy và Trương Văn Mùa đều học nho và được cha truyền đạt sở trường, sở học. Ông Vầy tinh thông địa lý, bỏi toán, tử vi; coi ngày lành xây dựng nhà, cười vợ gã chồng, cúng bái... theo cổ tục, nhưng không làm thầy, mà theo nghề ruộng rẫy. Ông Mùa nối nghiệp cha học thuốc xem mạch, cho toa, hốt thuốc; mở lớp dạy chữ nhỏ và biết làm thầy pháp nữa. Môn sinh đông lăm.
Các con ông Vầy, ông Mùa, đều học nho được cha ông rèn luyện, kềm cập nên đều tiếp thu được chân truyền tổ nghiệp. Nhưng chỉ Trương Văn Y nối nghiệp cha, ông làm thầy thuốc trị bịnh. Tất cả đều học chữ quốc ngữ biết đọc và biết viết. Thập niên 30 nửa đầu thế kỷ XX, Trương Văn Năng, do có tài sản ruộng trâu và biết chữ nghĩa nên bị buộc làm xã trưởng "ông xã Năng", một chức sắc trong Ban Hội tề làng xã thời bấy giờ. Ông chỉ làm làng 2 năm rồi treo mộc lại Nhà việc, từ chức về nhà làm ruộng "treo ấn từ quan".
Cha tôi Trương Văn Huyển (1891) và chú Trương Văn Y (1890) thuở nhỏ cùng học nho theo lối cổ điển từ sách Huấn Mông, Tam Tự Kinh, Ngũ Tự Kinh, Tam Thiên Tự, Minh Tâm Bửu Giám đến Luận ngữ, Trung Dung, Tứ Thư, Ngủ Kính. Chú tôi sang học thuốc nối nghiệp Tổ. Cha tôi nghiên cứu tử vi, hà đồ, lạc thư, nổi tiếng giỏi quẻ diệc, hay chữ và viết chữ đẹp trong vùng. Sanh vào thời nho mạt, tây học thịnh hành, ông sống an phận với vài ba mẫu ruộng với một đôi trâu, dùng thì giờ nhàn rỗi nghiên cứu Kinh Dịch và viết sách. Mệnh yểu, cuối năm 1936, cha tôi cảm bột có một ngày thì từ trần (28.12.36). Ông chỉ sống có 45 năm mà viết khá nhiều. Cha chết anh tôi mới 17 tuổi, còn tôi lên 4. Anh em tôi đều học quốc ngữ, không đọc được sách cha viết chữ nho. Sách để lài ngày, hư mụt khá nhiều, phần xông mát, vụng nhiều đoạn. Anh tôi chỉ đọc và học được phân chữ quốc ngữ của cha. Qua nhiều cuộc biến cố, sách hư mất nhiều. Năm Mậu Thân (1968) nhà tôi bị thiêu rụi. Tất cả sách, truyện, giấy tờ cha ông để lại đều làm mồi cho lửa.
Nghề y cổ truyền và gia truyền của dòng họ Trương truyền đên đời chú tôi: "Thầy Hai Y". Chú có 6 con đều học tây. Do không có con cháu nối nghiệp, chú truyền nghề cho môn sinh là Cư Đình, gốc người Đức Hòa. Sau CM. tháng 8/45, đi kháng chiến, mất tích luôn. Sau Khi Chú tôi qua đời nghề y học của của dòng họ Trương thất truyền, mất hẵn.
Sau ngày nghỉ hưu, hưu, anh tôi tìm lại nguồn gốc, gia tộc rất khó khăn trước Trước kia, chỉ học một một phần nhỏ, rất ít của bác, đến khi tìm hiểu thì các lớp trước đều qua đời. Hệ thứ ba, còn duy nhất bà cô Trương Thị Nhung, tức 8 Nhồng sanh năm Canh từ (1900) năm này thọ 97 tuổi (1900-1997)
Tôi không có ý thức về gia tộc, lập tông chi, viết phổ, khi được anh trao gia phổ cho xem. Tôi có ý định anh biên tập, nhưng công việc dồn dập ngày qua ngày; đêm anh viết gia phổ lần thứ hai, có bổ sung, sửa đổi những chi tiết chưa đúng, tôi mới đọc hết gia phổ dòng Trương của tôi.
Xin trân trọng gìn giữ về ý, về sự diễn đạt, phong của anh, tôi điên tập lại chính tả và điều chỉnh ra chỉ tiết cho xuyên suốt, nhất quán, và thiết kế bản Tông chi có hệ thống "Dòng Trương tộc & gia đình”, bố trí xếp cách hiểu của mình, chứ chưa được học phương pháp trình gia phổ. Do đó, không sao tránh thiếu sót, khuyết điểm. Mong các thế hệ sau bổ sung, chỉnh lý cho tốt hơn và ghi tiếp ...
Di bút của anh em Trương Văn Chi - Trương Thanh Vân
(cháu đời thứ tư của cụ Tổ dòng tộc Trương Văn Long)