- Niên hiệu: Tự Đức 嗣德
- Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任)
- Ngày sinh: Ngày 25 tháng 08 năm Kỷ Sửu (22/09/1829).
- Năm lên ngôi: Tháng 10 năm Đinh Mùi (1947).
- Thời gian trị vì: 36 năm (1847 - 1883).
- Ngày mất: Ngày 16 tháng 06 năm Quý Mùi (19/07/1883).
- Miếu hiệu: Dực Tông Anh Hoàng đế.
[!10!]
Trong 13 vị vua triều Nguyễn, Tự Đức là vua trị vì lâu nhất với 36 năm, từ 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì, Pháp xâm lăng Việt Nam, loạn lạc xảy ra khắp nơi, trách nhiệm của nhà vua đối với lịch sử thật lớn lao
Tóm tắt cuộc đời vua Tự Đức
Vua Tự Đức (trị vì 1847–1883) có tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829 tại Huế, con thứ hai của Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Vì anh trai là Nguyễn Phúc Hồng Bảo ham cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị truyền ngôi cho ông. Tháng 10 nǎm 1847, Hồng Nhậm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi nhưng học vấn uyên bác. Bắt đầu từ năm sau 1848. Khi Tự Đức lên nắm quyền, triều đình cai trị theo kiểu Nho giáo.
Dù có 103 bà vợ, ông không có người con ruột nào vì lúc nhỏ mắc bệnh đậu mùa, lại đau ốm liên miên nên sức khỏe không tốt. Ông nhận ba người cháu ruột làm con nuôi là Ưng Chân, Ưng Đường và Ưng Đăng. Bù lại sự yếu kém sức khỏe, Tự Đức lại rất thông minh và có tài vǎn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.
Tự Đức cai trị đất nước trong 36 năm từ 1847 đến 1883. Ông có 103 vợ và phi tần nhưng không có con do mắc bệnh quai bị khi mới 20 tuổi. Thế là ông nhận 3 người cháu trai làm con nuôi.
Thành tựu triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức
Tự Đức thiếu tính quyết đoán, thường dựa vào triều thần, bàn việc triều thần thì rất bảo thủ, do đó khi trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, các cường quốc đang cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thì vua tôi chỉ lo việc nghiên bút, bàn đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa làm tấm gương, nên Tự Đức "bế quan toả cảng" cấm buôn bán gay gắt.
Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đình thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.