menu Chọn Lựa
       
Icon  
Các Vua Triều NguyễnKinh Đô Huế
7 thế hệ - 15 thành viênNguồn số liệu: Bản mẫu - Thế phả nhà Nguyễn
  1. Vua Thiệu Trị
     
    (16/6/1807 - 4/11/1847)   thọ 41 tuổi
    article
    Man2

    Vua Thiệu Trị  
    Vua thứ 3 (1841-1847)
    Nguyễn Phúc Miên Tông

      

    Sinh: 16/6/1807 tại Huế, Đại Nam (11 tháng 5 năm Đinh Mẹo)Qua đời: 4/11/1847  (27 tháng 9 năm Đinh Mùi) tại Huế, Đại NamAn táng: Xương Lăng, Huế, Đại NamTiểu sử:
    • Niên hiệu: Thiệu Trị紹治
    • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Miên Tông阮福綿宗
    • Ngày sinh: Ngày 11 tháng 05 năm Đinh Mão (16/06/1807).
    • Năm lên ngôi: Ngày 20 tháng Giêng năm Tân Sửu (11/02/1841).
    • Thời gian trị vì: 07 năm (1840 - 1847).
    • Ngày mất: Ngày 27 tháng 09 năm Đinh Dậu (04/10/1847).
    • Miếu hiệu: Hiến Tổ Chương Hoàng đế.
    [!5!]
    Thiệu Trị, hiệu là Nguyễn Phúc Miên Tông. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và hoàng hậu Hồ Thị Hoa, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1807 tại Huế. Ông là con trưởng trong số 78 hoàng tử của vua Minh Mệnh nên được nối ngôi.

    Tóm tắt cuộc đời vua Thiệu Trị
    Ông nổi tiếng là một thi sĩ, nổi tiếng nhất là hai bài thơ chữ Hán là Vũ trung sơn thủy và Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm. Điểm độc đáo là cả hai bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, mỗi bài có 56 chữ ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một trận đồ bát quái, vua chỉ cách đọc và ra câu đố tìm 64 bài thơ trong đó. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã tìm được 128 cách đọc.

    Những thành tựu triều Nguyễn dưới thời vua Thiệu Trị
    Thiệu Trị được sử sách mô tả là một vị hoàng đế anh minh, tận tụy với việc nước, uyên bác về Nho học và yêu thơ ca. Vua Thiệu Trị chú trọng việc học hành, cho tiếp tục soạn bộ “Đại Nam thực lục tiền biên”, bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, đồng thời bản thân nhà vua cũng nổi tiếng là người giỏi thơ văn, nổi bật nhất là bộ thơ “Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập”.

    Tuy nhiên vua Thiệu Trị không đưa ra cải cách gì mới mà chỉ duy trì các chính sách hành chính, kinh tế, giáo dục, luật pháp, quân sự... từ thời Minh Mạng. Khi Thiệu Trị lên ngôi, chính sách bành trướng của Minh Mạng khiến lãnh thổ Đại Nam trở nên rộng lớn nhất trong lịch sử.

    Thiệu Trị còn phải đối phó với nguy cơ xâm lược ngày càng lớn của thực dân Pháp. Đỉnh cao là trận cửa biển Đà Nẵng (1847) khi quân Pháp đánh chìm 5 thuyền đồng của thủy quân Đại Nam. Thất bại này khiến hoàng đế rất tức giận và lo lắng, nhưng cho đến khi qua đời, Thiệu Trị và các quan của ông vẫn không tìm ra cách giải quyết hợp lý.

    Mười năm sau khi Thiệu Trị mất (1858), Pháp xâm lược Đại Nam, mở đầu thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ. Ông có khoảng 39 bà vợ và phi tần với 29 hoàng tử và 35 công chúa.
    Ghi Chú:

    Cập nhật: 21:51 23/07/2025
    more_horiz
      Vua Thiệu Trị (16/6/1807 - 4/11/1847)   thọ 41 tuổi   
    1. Vua Tự Đức
       
      (22/9/1829 - 19/7/1883)   thọ 55 tuổi
      article
      p239.jpg

      Vua Tự Đức  
      Vua thứ 4 (1847-1883)
      Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

        

      Sinh: 22/9/1829 tại Huế, Đại Nam (25 tháng 8 năm Kỷ Sửu)Qua đời: 19/7/1883  (16 tháng 6 năm Quý Mùi) tại Huế, Đại NamAn táng: Khiêm lăng, Huế, Đại NamTiểu sử:
      • Niên hiệu: Tự Đức 嗣德
      • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任)
      • Ngày sinh: Ngày 25 tháng 08 năm Kỷ Sửu (22/09/1829).
      • Năm lên ngôi: Tháng 10 năm Đinh Mùi (1947).
      • Thời gian trị vì: 36 năm (1847 - 1883).
      • Ngày mất: Ngày 16 tháng 06 năm Quý Mùi (19/07/1883).
      • Miếu hiệu: Dực Tông Anh Hoàng đế.
      [!10!]
      Trong 13 vị vua triều Nguyễn, Tự Đức là vua trị vì lâu nhất với 36 năm, từ 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì, Pháp xâm lăng Việt Nam, loạn lạc xảy ra khắp nơi, trách nhiệm của nhà vua đối với lịch sử thật lớn lao

      Tóm tắt cuộc đời vua Tự Đức
      Vua Tự Đức (trị vì 1847–1883) có tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829 tại Huế, con thứ hai của Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Vì anh trai là Nguyễn Phúc Hồng Bảo ham cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị truyền ngôi cho ông. Tháng 10 nǎm 1847, Hồng Nhậm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi nhưng học vấn uyên bác. Bắt đầu từ năm sau 1848. Khi Tự Đức lên nắm quyền, triều đình cai trị theo kiểu Nho giáo.

      Dù có 103 bà vợ, ông không có người con ruột nào vì lúc nhỏ mắc bệnh đậu mùa, lại đau ốm liên miên nên sức khỏe không tốt. Ông nhận ba người cháu ruột làm con nuôi là Ưng Chân, Ưng Đường và Ưng Đăng. Bù lại sự yếu kém sức khỏe, Tự Đức lại rất thông minh và có tài vǎn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.

      Tự Đức cai trị đất nước trong 36 năm từ 1847 đến 1883. Ông có 103 vợ và phi tần nhưng không có con do mắc bệnh quai bị khi mới 20 tuổi. Thế là ông nhận 3 người cháu trai làm con nuôi.

      Thành tựu triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức
      Tự Đức thiếu tính quyết đoán, thường dựa vào triều thần, bàn việc triều thần thì rất bảo thủ, do đó khi trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, các cường quốc đang cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thì vua tôi chỉ lo việc nghiên bút, bàn đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa làm tấm gương, nên Tự Đức "bế quan toả cảng" cấm buôn bán gay gắt.

      Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đình thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.

      Ghi Chú:

      Cập nhật: 15:49 24/07/2025
      more_horiz
        Vua Tự Đức (22/9/1829 - 19/7/1883)   thọ 55 tuổi   
    2. Thoại Thái Vương
       
      (11/9/1933 - 23/2/1877)   thọ -55 tuổi
      article
      Man2

      Thoại Thái Vương  
      Nguyễn Phúc Hồng Y

        

      Sinh: 11/9/1933 (22 tháng 7 năm Quý Dậu)Qua đời: 23/2/1877  (11 tháng 1 năm Đinh Sửu)An táng: Lăng Thoại Thái vươngTiểu sử: Nguyễn Phúc Hồng Y (chữ Hán: 阮福洪依, 11 tháng 9 năm 1833 – 23 tháng 2 năm 1877), tôn hiệu Thụy Thái vương (瑞太王) (còn được đọc trại thành Thoại Thái vương), biểu tự Quân Bác (君博), là một hoàng tử con vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.Ông được biết đến là thân phụ của vua Dục Đức, tổ phụ của vua Thành Thái và là tằng tổ phụ của vua Duy Tân.Ghi Chú:

      Trang tham khảo: Thoại Thái Vương

      Cập nhật: 14:17 29/09/2023
      more_horiz
        Thoại Thái Vương (11/9/1933 - 23/2/1877)   thọ -55 tuổi   
      segment
      1. Vua Dục Đức
         
        (23/2/1852 - 6/10/1983)   thọ 132 tuổi
        article
        Man2

        Vua Dục Đức  
        Vua thứ 5 (1883)
        Nguyễn Phúc Ưng Ái

          

        Sinh: 23/2/1852 tại Huế, Đại Nam (4 tháng 1 năm Nhâm Tý)Qua đời: 6/10/1983  (1 tháng 9 năm Quý Hợi) tại Huế, Đại NamAn táng: An Lăng, Huế, Đại NamTiểu sử:
        • Niên hiệu: Dục Đức hay Nguyễn Cung Tông (阮恭宗)
        • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Ưng Ái (阮福膺禛)
        • Ngày sinh: Ngày 04 tháng 01 năm Quý Sửu (11/02/1853).
        • Năm lên ngôi: Ngày 19 tháng 07 năm 1883.
        • Ngày mất: Ngày 06 tháng 10 năm 1883.
        [!11!]
        Dục Đức là ông vua có số phận bi thảm nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn. Vua Dục Đức nổi tiếng với thời gian tại vị ngắn nhất lịch sử chỉ 3 ngày (từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 7 năm 1883) thì bị hai vị phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hạch tội phế truất, bị giam và bỏ đói đến chết. Tuy nhiên, 6 năm sau, Thành Thái - Một người con của ông chính thức lên ngôi hoàng đế thứ 10 của triều Nguyễn vào năm 1889.

        Tóm tắt cuộc đời vua Dục Đức
        Vua Dục Đức (1852-1883) tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau được Tự Đức đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Chân. Ông là con thứ hai của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga. Năm 17 tuổi, ông được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và cho xây dựng phòng riêng để học tập, giao cho Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên trông nom dạy bảo. Chỗ học của vua về sau được gọi là Dục Đức Đường. Năm 1883, ông được phong làm Thụy Quốc công. Tài liệu của triều Nguyễn để lại rằng trong số 3 con nuôi của mình, vua Tự Đức yêu quý nhất và muốn truyền ngôi cho người con thứ ba là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con của Kiên thái vương và Nguyễn Thị Hương.

        Khi mất, vua Dục Đức để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. Vua Dục Đức là cha của vua Thành Thái và là ông nội của vua Duy Tân sau này.

        Ghi Chú:

        Cập nhật: 15:52 24/07/2025
        more_horiz
          Vua Dục Đức (23/2/1852 - 6/10/1983)   thọ 132 tuổi   
        segment
        1. Vua Thành Thái
           
          (14/3/1879 - 24/4/1954)   thọ 76 tuổi
          article
          p244.jpg

          Vua Thành Thái  
          Vua thứ 10 (1889-1907)
          Nguyễn Phúc Bửu Lân

            

          Sinh: 14/3/1879 tại Huế, Đại Nam (22 tháng 2 năm Kỷ Mẹo)Qua đời: 24/4/1954  (22 tháng 3 năm Giáp Ngọ) tại Sài Gòn, Quốc gia Việt NamAn táng: An LăngTiểu sử:
          • Niên hiệu:Thành Thái (成泰)
          • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙).
          • Ngày sinh: Ngày 22 tháng 02 năm Kỷ Mão (14/03/1879).
          • Năm lên ngôi: Ngày 01 tháng 02 năm 1889.
          • Thời gian trị vì: 19 năm (1889 - 1907).
          • Ngày mất: Ngày 18 tháng 2 năm Ất Mùi (09/03/1955).

          Vua Thành Thái tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân, trị vì nước 19 năm từ 1889 đến 1907. Khi lên ngôi đổi niên hiệu là Nguyễn Phúc Chiểu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Phan Thị Diệu, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Huế. Ông là cháu nội của Thái y Nguyễn Thái úy và là chắt của vua Thiệu Trị.


          Tóm tắt cuộc đời vua Thành Thái
          Khi lên bốn tuổi, vua Dục Đức bị hai đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đánh bại và chết trong tù. Năm ông lên chín tuổi, ông nội ông là Phan Đình Bình (đại thần họ Hồ) bị vua Đồng Khánh bắt bỏ tù và chết sau khi mắng Đồng Khánh gian nịnh, thân Pháp khi Đồng Khánh đi sứ. Quảng Bình để dụ vua Hàm Nghi.

          Ngày 28 tháng 1 năm 1889, vua Đồng Khánh bất hạnh qua đời ở tuổi 24. Lúc đó con của Đồng Khánh là Bửu Đảo mới 3 tuổi nên không thể nối ngôi. Tại tòa Khâm sứ, ông Diệp Văn Cường đang làm phiên dịch. Diệp Vọng Cương lấy dì của Bửu Lân, đồng thời có cảm tình với vua Dục Đức (anh rể) nên tìm cách cho cháu mình lên ngôi. Ông đã dịch nó cho Đại sứ Rheinart theo một cách hoàn toàn khác với Secret Institute. Thế là Bửu Lân được chọn lên ngôi khi mới 10 tuổi.

          Thành tựu dưới thời vua Thành Thái
          Thành Thái là một vị vua yêu nước và là một người có tinh thần dân tộc rất cao. Ông rất khinh ghét những bọn quan lại xu phụ. Ông thường giả điên để che mắt thực dân Pháp và tay sai. Ông còn bí mật huấn luyện quân đội, chế tạo vũ khí chờ thời cơ nổi dậy chống Pháp. Tuy nhiên, khi sự việc bại lộ. Ông buộc phải thoái vị và bị đày đến Reunion.

          Đầu tháng 5/1945 (sau khi vua Duy Tân băng hà), nhờ sự vận động của con gái và con rể, vợ chồng luật sư Vương Quang Nhường và cựu hoàng Thành Thái được phép trở về Việt Nam. Ông và gia đình sống tại Villa Anna ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay).

          Tháng 3 năm 1953, ông được phép trở lại Huế viếng lăng cha mẹ. Ông mất ngày 20 tháng 3 năm 1954 tại Sài Gòn và được an táng trong khuôn viên An Lăng thành (lăng Dục Đức) thuộc xã An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, hưởng thọ 75 tuổi.

          Ghi Chú:

          Cập nhật: 03:14 21/07/2025
          more_horiz
            Vua Thành Thái (14/3/1879 - 24/4/1954)   thọ 76 tuổi   
          segment
          1. Vua Duy Tân
             
            (19/9/1900 - 26/12/1945)   thọ 46 tuổi
            article
            p245.jpg

            Vua Duy Tân  
            Vua thứ 11 (1907-1916)
            Nguyễn Phúc Vĩnh San

              

            Sinh: 19/9/1900 tại Huế, Đại Nam, Liên bang Đông Dương (26 tháng 8 năm Canh Tý)Qua đời: 26/12/1945  (22 tháng 11 năm Ất Dậu) tại Châu Phi Xích Đạo thuộc PhápAn táng: Huế, Việt NamTiểu sử:
            • Niên hiệu:Duy Tân (維新)
            • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊).
            • Ngày sinh: Ngày 26 tháng 08 năm Canh Tý (19/09/1900).
            • Năm lên ngôi:Ngày 28 tháng 07 năm Đinh Mùi (05/09/1907).
            • Thời gian trị vì: 09 năm (1907 - 1916).
            • Ngày mất: Ngày 21 tháng 11 năm Ất dậu (25/12/1945).

            Vua Duy Tân lên ngôi lúc mới 7 tuổi, song với tư chất thông minh và cương vị người đứng đầu triều đình, ông trưởng thành rất sớm. Vốn được đưa lên ngôi vì "nhỏ tuổi, dễ bề sai khiến" nhưng vua Duy Tân đã thể hiện ý chí chống Pháp khiến quân Pháp phải bất ngờ.

            Tóm tắt cuộc đời vua Duy Tân
            Vua Duy Tân tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San. Ông trị vì đất nước trong 9 năm từ 1907 đến 11916. Vua Duy Tân sinh ngày 19 tháng 9 năm 1900.

            Lên ngôi vua, Duy Tân được người Pháp tạo điều kiện để vui chơi nhằm quên đi việc nước. Nhưng trái lại, Duy Tân chăm chỉ học tập để am hiểu nhiều lĩnh vực như tiếng Pháp, triết học, chính trị học, luật lệ, triều chính... Ông sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ như đàn nguyệt, đàn tranh, và tiếp thu kiến thức văn hóa, thành tựu của phương Tây.

            Cha bị thực dân Pháp đày ải, ông được Pháp đưa lên ngôi vua khi còn nhỏ - 7 tuổi. Tuy nhiên, càng lớn, vua Duy Tân càng có những lời nói và cử chỉ tỏ rõ ý chí chống Pháp. Năm 1916, lợi dụng khi châu u đang trong chiến tranh, ông đã bí mật bắt liên lạc với các tướng của Việt Nam Quang Phục hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân, lập mưu khởi nghĩa chống Pháp. Nỗ lực thất bại và Duy Tân bị bắt vào ngày 6 tháng 5 và ngày 3 tháng 11 năm 1916, ông bị quản thúc tại đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.

            Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) ông tham gia Đồng minh chống phát xít Đức. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, ông qua đời trong một vụ tai nạn máy bay ở Cộng hòa Trung Phi, hưởng thọ 45 tuổi. Ngày 24 tháng 4 năm 1987, thi hài ông được đưa từ Réunion về Việt Nam, sau đó đưa về an táng tại Lăng Dục Đức, Huế bên cạnh lăng vua cha Thành Thái.
            Ghi Chú:

            Cập nhật: 03:16 21/07/2025
            more_horiz
              Vua Duy Tân (19/9/1900 - 26/12/1945)   thọ 46 tuổi   
    3. Kiên Thái Vương
       
      (13/12/1845 - 15/5/1876)   thọ 32 tuổi
      article
      Man2

      Kiên Thái Vương  
      Nguyễn Phúc Hồng Cai

        

      Sinh: 13/12/1845 (15 tháng 11 năm Ất Tỵ)Qua đời: 15/5/1876  (22 tháng 4 năm Bính Tý)An táng: Lăng Kiên Thái vươngTiểu sử: Nguyễn Phúc Hồng Cai (chữ Hán: 阮福洪侅; 13 tháng 12 năm 1845 – 15 tháng 5 năm 1876), tôn hiệu Kiên Thái vương (堅太王), là một hoàng tử con vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.Ông được biết đến là phụ thân của ba vị hoàng đế liên tiếp của triều Nguyễn, là Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh, đồng thời là tổ phụ của vua Khải Định và là tằng tổ phụ của vua Bảo Đại.Ghi Chú:

      Trang tham khảo: Kiên Thái Vương

      Cập nhật: 14:19 29/09/2023
      more_horiz
        Kiên Thái Vương (13/12/1845 - 15/5/1876)   thọ 32 tuổi   
      segment
      1. Vua Đồng Khánh
         
        (19/2/1964 - 28/1/1889)   thọ -74 tuổi
        article
        p246.jpg

        Vua Đồng Khánh  
        Vua thứ 9 (1885-1889)
        Nguyễn Phúc Ưng Kỷ

          

        Sinh: 19/2/1964 tại Huế, Đại Nam (7 tháng 1 năm Giáp Thìn)Qua đời: 28/1/1889  (27 tháng 12 năm Mậu Tý) tại Huế, Đại Nam, Liên bang Đông DươngAn táng: Tư LăngTiểu sử:
        • Niên hiệu:Đồng Khánh Đế 同慶
        • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Ưng Đường (阮福膺禟)
        • Ngày sinh: Ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (19/12/1864).
        • Năm lên ngôi: tháng 08 năm 1885.
        • Thời gian trị vì: 03 năm (1885 - 1888).
        • Ngày mất: Ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tỷ (28/01/1889).
        • Miếu hiệu: Cảnh Tông Thuần Hoàng đế.
        [!7!]
        Đồng Khánh được xem là vị hoàng đế lên ngôi nhờ may mắn. Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất quân lãnh đạo phong trào chống Pháp, lập căn cứ tại Tuyên Hóa (Quảng Bình). Triều đình Huế và Pháp liền thương lượng rồi đưa Ưng Biện lên ngôi, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Đây được coi là việc gấp rút trong tình thế rối loạn, chứ xét rõ thì trái với di chiếu của vua Tự Đức.

        Tóm tắt cuộc đời vua Đồng Khánh
        Đồng Khánh sinh ngày 19-2-1864, tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Thị và Nguyễn Phúc Ưng Đường, lên ngôi lấy niên hiệu là Nguyễn Phúc Biền, vị hoàng đế thứ 9 của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, cai trị từ 1885 đến 1889.

        Đồng Khánh vốn là con nuôi của vua Tự Đức. Năm 1885, sau khi triều đình Huế bị quân Pháp đánh bại trong trận kinh thành Huế, Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạy vào Quảng Trị. Đồng Khánh lên ngôi Pháp Dưới triều đại của ông, thực dân Pháp đã bắt đầu những công việc đầu tiên nhằm thiết lập một thời kỳ đô hộ 60 năm ở Tonkin (Bắc Kỳ) và An Nam (Trung Kỳ), trong khi triều đình Huế tỏ ra thần phục và hòa hoãn. Không dám cãi lại Pháp, Đồng Khánh chủ trương tiếp thu văn minh Pháp, dùng hàng Tây. Chính vì lẽ đó mà sử sách Việt Nam sau thời Nguyễn thường coi ông là một ông vua phản động, vì lợi ích của mình mà cam tâm làm bù nhìn, tay sai cho ngoại bang.

        Đầu năm 1889, Đồng Khánh ốm nặng qua đời khi còn khá trẻ, mới trị vì được 4 năm, hiệu là Cảnh Tông. Người kế vị ông là vua Thành Thái. Theo Đại Nam Thực Lục, hậu duệ của Nguyễn Phước Tộc, vua Đồng Khánh có vua có tất cả hơn 100 phi tần, họ sinh cho ông sáu hoàng tử và ba công chúa. Tuy nhiên, sách Hoàng tộc Nguyễn chép rằng ông có 6 trai và 6 gái, nhưng không ghi rõ tên các công chúa.

        Ghi Chú:

        Cập nhật: 15:53 24/07/2025
        more_horiz
          Vua Đồng Khánh (19/2/1964 - 28/1/1889)   thọ -74 tuổi   
        segment
        1. Vua Khải Định
           
          (8/10/1885 - 6/1/1925)   thọ 41 tuổi
          article
          p247.jpg

          Vua Khải Định  
          Vua thứ 12 (1916-1925)
          Nguyễn Phúc Bửu Đảo

            

          Sinh: 8/10/1885 tại Huế, Đại Nam (1 tháng 9 năm Ất Dậu)Qua đời: 6/1/1925  (12 tháng 12 năm Giáp Tý) tại Huế, Đại Nam, Liên bang Đông DươngAn táng: Ứng LăngTiểu sử:
          • Khải Định Đế (啓定帝)
          • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹).
          • Ngày sinh: Ngày 01 tháng 09 năm Ất Dậu (08/10/1885).
          • Năm lên ngôi: Ngày 18 tháng 05 năm 1916.
          • Thời gian trị vì: 09 năm.
          • Ngày mất: Ngày 20 tháng 09 năm Ất Sửu (06/11/1925).
          • Miếu hiệu: Hoàng Tông Tuyên Hoàng đế.
          [!12!]
          Vua Khải Định là vị hoàng đế thứ 12 trong 13 vị vua triều Nguyễn. Khải Định bị đánh giá là một vị vua nhu nhược trước Pháp, không quan tâm chính sự mà chỉ ham chơi bời, cờ bạc, ăn tiêu xa xỉ. Ông thường bị đả kích bởi báo chí và các phong trào yêu nước Việt Nam đương thời. Tuy nhiên, trong thời gian trị vì ông đã có nhiều đóng góp về việc phát triển trang phục truyền thống và các công trình kiến trúc cổ.

          Tóm tắt cuộc đời vua Khải Định
          Vua Khải Định có tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Đảo. Ông cai trị đất nước trong 9 năm từ 1916 đến 1925.

          Năm 1889, vua Đồng Khánh băng hà, Bửu Đảo còn nhỏ nên không được nối ngôi (người nối ngôi là Thành Thái). Năm 1906, Bửu Đảo được đặt tên là Phụng Hóa Công. Ông là một tay cờ bạc, thường xuyên bị thua, có khi phải bán cả đồ gia dụng và người hầu. Bửu Đảo thậm chí còn bắt vợ là con gái của đại thần Trương Như Cương phải xin tiền cha mẹ để trả nợ đánh bạc.

          Đăng quang Bửu Đảo không hoàn toàn suôn sẻ. Sau khi kết tội vua Duy Tân, người Pháp muốn xóa bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam nhưng các đại thần, đặc biệt là đại thần Nguyễn Hữu Bài không chịu nên Pháp phải nhượng bộ. Ngày 18-5-1916, Bửu Đảo lên ngôi lấy niên hiệu là Khải Định.

          Khải Định sức khỏe kém giống cha và trở thành một con nghiện. Ông chết vì bệnh lao ở Kinh thành Huế, theo lời kể của người vợ lẽ Ba Phi, người mô tả ông là người "không ham muốn tình dục" và "thể chất yếu ớt".

          Một số thành tựu dưới thời vua Khải Định
          Mặc dù có nhiều câu chuyện về vua Khải Định là người ăn chơi xa xỉ nhưng cũng không thể bỏ qua được những cải cách của ông. Được học hỏi và tiếp thu nhiều kiến thức văn hóa phương Tây nên nhà vua cũng có tư tưởng cũng cởi mở hơn.

          Vua Khải Định đã tự thiết kế trang phục kiểu mới và xây dựng điện Kiến Trung, cung An Đinh và cung Ứng Lăng theo phong cách kiến trúc hiện đại. Sự giao thoa văn hóa với người Pháp đã làm cho thẩm mỹ của vua có sự khác biệt.

          Ghi Chú:

          Cập nhật: 15:56 24/07/2025
          more_horiz
            Vua Khải Định (8/10/1885 - 6/1/1925)   thọ 41 tuổi   
          segment
          1. Vua Bảo Đại
             
            (22/10/1913 - 31/7/1997)   thọ 85 tuổi
            article
            p248.jpg

            Vua Bảo Đại  
            Vua thứ 13 (1926-1945)
            Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy

              

            Sinh: 22/10/1913 tại Huế, Đại Nam, Liên bang Đông Dương (23 tháng 9 năm Quý Sửu)Qua đời: 31/7/1997  (27 tháng 6 năm Đinh Sửu) tại Val-de-Grâce, Paris, PhápAn táng: Nghĩa trang Passy, PhápTiểu sử:
            • Niên hiệu: Bảo Đại (保大)
            • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (阮福永瑞)
            • Ngày sinh: Ngày 03 tháng 09 năm Quý Sửu (22/10/1913).
            • Năm lên ngôi: Ngày 25 tháng 11 năm Ất Sửu (08/01/1926).
            • Thời gian trị vì: 21 năm (1925 - 1945).
            • Ngày mất: Ngày 31 tháng 07 năm 1997.

            Vua Bảo Đại là vị vua cuối cùng trong 13 vị vua triều Nguyễn và cũng là hoàng đế cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

            Vua Bảo Đại có tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Ông trị vì đất nước trong 20 năm từ 1925 đến 1945. Bảo Đại sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 và trở thành vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam.

            Từ năm 1922, Bảo Đại được đưa sang Pháp du học. Năm 1925, vua Khải Định băng hà, Bảo Đại về nước lo tang lễ cho cha và chính thức lên ngôi. Tuy nhiên, sau đó ông vẫn sống và học tập tại Pháp cho đến năm 1832 thì chính thức trở về nước để trị vì đất nước.

            Năm 1945 sau cách mạng tháng 8, ngày 30 tháng 8, ông chính thức thoái vị và trao quyền lãnh đạo đất nước cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh. Ông trở thành cố vấn cho chính phủ Hồ Chí Minh. Một năm sau, ông sang Trung Quốc rồi sang sống ở Pháp cho đến năm 1949 thì trở về Việt Nam và trở thành Quốc trưởng của chính phủ Pháp.

            Năm 1954, sau hiệp định Genève, ông bị Ngô Đình Điền thay thế và Chiến tranh Việt Nam bắt đầu. Ông chuyển đến sống ở Pháp cho đến cuối đời. Ông mất năm 1997 tại Pháp, hưởng thọ 83 tuổi. Vua Bảo Đại có 8 bà vợ và 12 người con: 5 hoàng tử và 7 công chúa.
            Ghi Chú:

            Cập nhật: 21:33 23/07/2025
            more_horiz
              Vua Bảo Đại (22/10/1913 - 31/7/1997)   thọ 85 tuổi   
      2. Vua Hàm Nghi
         
        (3/8/1871 - 14/1/1944)   thọ 74 tuổi
        article
        p249.jpg

        Vua Hàm Nghi  
        Vua thứ 8 (1884-1885)
        Nguyễn Phúc Ưng Lịch

          

        Sinh: 3/8/1871 tại Huế, Đại Nam (17 tháng 6 năm Tân Mùi)Qua đời: 14/1/1944  (19 tháng 12 năm Quý Mùi) tại Alger, Algérie, PhápAn táng: Làng Thonac, Vigeois,Dordogne, Pháp.Tiểu sử:
        • Niên hiệu:Hàm Nghi 咸宜
        • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Ưng Lịch (阮福膺?).
        • Ngày sinh: Ngày 17 tháng 06 năm Tân Mùi (03/8/1871).
        • Năm lên ngôi: Ngày 12 tháng 06 năm Giáp Thân(02/08/1884).
        • Thời gian trị vì: 01 năm (1884 - 1885).
        • Ngày mất: Ngày 14 tháng 01 năm 1944.

        Trong 13 vị vua triều Nguyễn, Hàm Nghi được xem là vị vua có lòng tự tôn dân tộc nhất, yêu nước nhất khi sẵn sàng rời bỏ ngai vàng và phát hịch Cần vương chống Pháp.

        Tóm tắt cuộc đời vua Hàm Nghi
        Hàm Nghi sinh ngày 3 tháng 8 năm 1871 - 14 tháng 1 năm 1944, hiệu là Đế Xương, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, vị hoàng đế thứ tám của nhà Nguyễn. “Vua Hàm Nghi là một người sáng dạ, thông minh ngay từ nhỏ. Sinh năm 1871, lên ngôi lúc mới 13 tuổi, nhưng ông đã ý thức được nỗi nhục mất nước và luôn đau đáu về một nền độc lập cho dân tộc”.

        Là em ruột vua Kiến Phúc, năm 1884 Hàm Nghi được các phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi khi mới 13 tuổi. Sau cuộc phản công ở kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp.

        Một số thành tựu dưới thời vua Hàm Nghi
        Ngày 13/1/1889, vua đặt chân đến Algérie trong tình trạng suy nhược vì sốt rét. Vua ở trong biệt thự tại El Biar, dưới sự giám sát và bảo vệ nghiêm ngặt. Tại đây, ông bắt đầu học nhiếp ảnh, vẽ. Suốt sự nghiệp, vua từng thực hiện ba triển lãm: tại Musée Guimet (tháng 6/1904), Galerie Mantelet (tháng 11/1911), Galerie Mantelet - Colette Weil (tháng 11/1926). Khi nhà văn Nga Tatiana Chtchepkina-Koupernik - người gặp ông tại dinh thự Gia Long - thúc giục tiếp tục tổ chức triển lãm ở Paris, ông từ chối. Vua coi nghệ thuật như thú vui riêng, giúp quên đi thực tại là vị vua bị phế truất, đang sống lưu vong. Ông cũng chưa bao giờ bán bất kỳ tác phẩm nào.

        Hàm Nghi nổi tiếng đi liền với chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp. Năm 1885, sau khi kinh đô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết rời khỏi kinh thành và phát phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân, phò tá giúp vua, giúp nước. Phong trào này kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông được đưa đến Algiers (thủ đô của Algérie) và qua đời tại đây vào năm 1943 vì căn bệnh ung thư dạ dày. Do áp lực của Pháp, triều Nguyễn không lập đền thờ cho ông.
        Ghi Chú:

        Cập nhật: 03:09 21/07/2025
        more_horiz
          Vua Hàm Nghi (3/8/1871 - 14/1/1944)   thọ 74 tuổi   
      3. Vua Kiến Phúc
         
        (12/2/1869 - 31/7/1869)   thọ 1 tuổi
        article
        p250.jpg

        Vua Kiến Phúc  
        Vua thứ 7 (1883-1884)
        Nguyễn Phúc Ưng Đăng

          

        Sinh: 12/2/1869 tại Huế, Đại Nam (2 tháng 1 năm Kỷ Tỵ)Qua đời: 31/7/1869  (23 tháng 6 năm Kỷ Tỵ) tại Huế, Đại NamAn táng: Bồi LăngTiểu sử:
        • Kiến Phúc (建福) hoặcKiến Phúc Đế (建福帝)
        • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Ung Đăng(阮福膺登)
        • Ngày sinh: Ngày 02 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12/2/1869).
        • Năm lên ngôi: Ngày 03 tháng 11 năm Quý Mùi (02/12/1883).
        • Thời gian trị vì: 08 tháng (1883 - 1884)
        • Ngày mất: Ngày 10 tháng 06 năm Giáp Thân (31/07/1884)
        [!8!]
        Kiến Phúc sinh 12 tháng 2 năm 1869 - 31 tháng 7 năm 1884), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là vị hoàng đế thứ bảy của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, ở ngôi được 8 tháng thì mất, thụy là Giản Tông.

        Tóm tắt cuộc đời vua Kiến Phúc
        Vua Kiến Phúc là con thứ 3 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Ưng Đăng sinh ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12-2-1869). Năm 1870 lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo. Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2-12-1883, Ưng Đăng (15 tuổi) được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31-7-1884) lúc mới 16 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Kiến Phúc được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng đế.

        Vua Kiến Phúc chỉ làm vua được 8 tháng, trở thành vị vua hiển hách nhất của triều Nguyễn, khi vua băng hà khi mới 15 tuổi. Cái chết của ông có liên hệ mật thiết với Phi tần Nguyễn Văn Thị Hương và Phụ chính sứ Nguyễn Văn Tường.

        Thành tựu triều Nguyễn dưới thời vua Kiến Phúc
        Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi của mình, có một việc làm đáng nhớ của vua Kiến Phúc, đó là vào đầu tháng Giêng năm Giáp Thân (1884) triều đình đã cho chế tạo thử loại súng theo kiểu của Mỹ và Đức, đồng thời cho dệt thử một số loại vải hoa, vải bông như phương Tây. Vua giao cho ông Nguyễn Xuân Phiếu phụ trách việc này cùng 3 người thợ máy, 15 thợ dệt và 20 biền binh. Những người này được phái đi học tập, thí nghiệm. Những người này sau khi thành thục đều được thăng chức hoặc thưởng tiền.

        Dưới thời vua Kiến Phúc, ngày 6-6-1884, triều đình Huế ký với thực dân Pháp Hiệp ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre), sửa đổi một số điều so với Hiệp ước Quý Mùi nhưng về cơ bản vẫn công nhận sự “bảo hộ” của Pháp đối với đất nước Việt Nam.
        Ghi Chú:

        Cập nhật: 15:55 24/07/2025
        more_horiz
          Vua Kiến Phúc (12/2/1869 - 31/7/1869)   thọ 1 tuổi   
    4. Vua Hiệp Hòa
       
      (1/11/1847 - 29/11/1883)   thọ 37 tuổi
      article
      p242.jpg

      Vua Hiệp Hòa  
      Vua thứ 6 (1883)
      Nguyễn Phúc Hồng Dật

        

      Sinh: 1/11/1847 (24 tháng 9 năm Đinh Mùi)Qua đời: 29/11/1883  (30 tháng 10 năm Quý Mùi) tại Huế, Đại NamTiểu sử:
      • Niên hiệu: Hiệp Hòa 協和
      • Tên đầy đủ: Nguyễn Phúc Hồng Dật (阮福洪佚)
      • Ngày sinh: Ngày 01 tháng 11 năm 1847.
      • Năm lên ngôi: năm 1883.
      • Ngày mất: Ngày 30 tháng 10 năm Quý Mùi (29/11/1883).
      [!9!]
      Vua Hiệp Hòa tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, khi lên ngôi đổi niên hiệu là Nguyễn Phúc Thắng, sinh quán tại Huế, con thứ 29 và là út của vua Thiệu Trị; Mẹ Doãn Tấn là bà Đoàn Thị Doãn (có sách ghi là Thuấn). Nguyên hiệu của ông là Lang Quốc Công. Theo truyền thống của hoàng tộc Nguyễn Phúc từ thời thờ chúa Nguyễn Phúc Khoát, các hoàng tử sinh ra để dễ nuôi thường đặt tên là Mễ nên thuở nhỏ vua Hiệp Hòa cũng gọi là Mễ.

      Hiệp Hòa trị vì đất nước trong 4 tháng từ 30 tháng 7 đến 29 tháng 11 năm 1883. Vua có 11 hoàng tử và 6 công chúa, chỉ biết người con thứ là Ưng Hiệp kế vị anh là Phong Lộc tước và một hoàng hậu. tên Ngọc Pha. Hai người con trai khác của ông là Nguyễn Phúc Ưng Bác, tu húy là Văn Lang Hương Công và Nguyễn Phúc Ưng Chuẩn.

      Ghi Chú:

      Cập nhật: 15:51 24/07/2025
      more_horiz
        Vua Hiệp Hòa (1/11/1847 - 29/11/1883)   thọ 37 tuổi   
Việt Điểu
Việt Điểu - Gia Phả   20:57 05-03-2026https://vietdieu.org/gia_pha